Tuyển tập bản án về tội trốn thuế của doanh nghiệp

Thuy Nguyen ACCA

“Hiện nay có nhiều doanh nghiệp không xuất hóa đơn hoặc không nộp hồ sơ khai thuế theo quy định để trốn thuế. Tôi muốn tìm các bản án về tội trốn thuế của doanh nghiệp, mong Ban biên tập giúp tôi. Xin cảm ơn!”_Nguyễn Hùng (Hà Nội)

Chào anh, đối với nội dung anh yêu cầu, Ban biên tập xin gửi đến anh một số bản án sau:

I. Quy đinh pháp luật về hành vi trốn thuế

1. Xử phạt hành chính với hành vi trốn thuế:

Trường hợp cá nhân, doanh nghiệp có hành vi trốn thuế nhưng chưa đến mức bị xử lý hình sự thì bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 17 Nghị định 125/2020/NĐ-CP. Cụ thể, mức xử phạt như sau:

- Phạt tiền bằng số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên khi thực hiện một trong các hành vi trốn thuế nêu trên.

- Phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi trốn thuế nêu trên mà không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;

- Phạt tiền 02 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi trốn thuế mà có một tình tiết tăng nặng.

- Phạt tiền 2,5 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi trốn thuế mà có hai tình tiết tăng nặng.

- Phạt tiền 03 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi trốn thuế mà có ba tình tiết tăng nặng trở lên.

Ngoài ra, cá nhân, doanh nghiệp trốn thuế còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả:

- Buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước;

- Trường hợp hành vi trốn thuế theo quy định đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng phải nộp đủ số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn;

- Buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế (nếu có)…

2. Xử lý hình sự với hành vi trốn thuế:

Theo Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017 quy định người nào thực hiện một trong các hành vi trốn thuế với số tiền dưới đây thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội trốn thuế.

Điều 200. Tội trốn thuế

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;

b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;

c) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;

d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;

đ) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;

e) Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

g) Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

h) Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;

i) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

5.Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 196 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

II. Một số bản án về hành vi trốn thuế

1. Bản án 29/2021/HSST ngày 09/04/2021 về tội trốn thuế

- Cấp xét xử: Sơ thẩm.

- Cơ quan xét xử: Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Trích dẫn nội dung: “Doanh nghiệp Tư nhân Thương mại dịch vụ VH trong quá trình hoạt động kinh doanh mặt hàng xăng, dầu từ năm 2014 đến hết 20/5/2019 Nguyễn Hữu P đã mua của Công ty Trách nhiệm hữu hạn HĐ (Công ty HĐ) lượng xăng dầu có tổng giá trị đầu vào là 33.480.727.000 đồng. Số xăng, dầu này Nguyễn Hữu P đã bán lẻ cho người tiêu dùng hết (không xuất hóa đơn giá trị gia tăng). Theo thông báo giá bán lẻ xăng, dầu của Công ty HĐ thì có cơ sở xác định tổng doanh số xăng, dầu bán ra của DNTN VH trong khoảng thời gian nêu trên là 38.651.570.000 đồng. Mặt dù hoạt động kinh doanh bình thường nhưng Nguyễn Hữu P không nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật. Sau nhiều lần yêu cầu Nguyễn Hữu P nộp hồ sơ khai thuế và áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế thi hành thuế theo quy định nhưng P không thực hiện nên Chi cục Thuế huyện Châu Thành (nay là Chi cục Thuế khu vực CT-TP) đã kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xử lý hình sự hành vi trốn thuế của Nguyễn Hữu P theo quy định pháp luật.”

2. Bản án về tội trốn thuế số 153/2021/HS-ST

- Cấp xét xử: Sơ thẩm.

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.

Trích dẫn nội dung: Đặng Đình C đã dùng thông tin cá nhân của Đặng Văn T lập Công ty CP đầu tư và thương mại Ngọc K , C đã thuê chị Nguyễn Thị H làm Kế toán. Hàng tháng, C trả tiền công cho chị H là 3.500.000 đồng/tháng, đến hết tháng 6/2017 thì chị H nghỉ việc, C tiếp tục thuê kế toán công ty làm theo thời vụ (khi thuê chỉ thỏa thuận miệng, không ký văn bản).Trong quá trình hoạt động của Công ty, đến đầu năm 2017, C nảy sinh ý định mua hóa đơn GTGT của các Công ty “ma” do các đối tượng T lập không hoạt động sản xuất, kinh doanh mà chỉ mua bán trái phép hóa đơn GTGT, để C khấu trừ thuế giá trị gia tăng và giảm tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2017…”

3. Bản án 18/2021/HSST ngày 04/06/2021 về tội trốn thuế

- Cấp xét xử: Sơ thẩm.

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

Trích dẫn nội dung: “Trong quá trình hoạt động kinh doanh Công ty TNHH TL do Thạch Kim M làm giám đốc không hoàn thành nghĩa vụ đóng thuế dẫn đến nợ tiền thuế của Nhà nước. Ngày 07/5/2018, Chi cục thuế huyện ĐS ra Quyết định số 242/QĐ-CCT về việc áp dụng cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng (thời gian áp dụng cưỡng chế từ ngày 09/5/2018 đến ngày 08/5/2019), Thông báo số 563/TB-CTT về việc hóa đơn không còn giá trị sử dụng đối với Công ty TNHH TL. Trong thời gian bị cưỡng chế do không có hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) để sử dụng trong việc bán hàng hóa. Ngày 17/8/2018 Thạch Kim M ký hợp đồng để tự đặt in 10 quyển hóa đơn GTGT số lượng 500 số, từ số 0000001 đến số 0000500 với Công ty TNHH MTV in Đ. Ngày 05/9/2018, Trần Thị Như H, kế toán của Công ty gửi Thông báo phát hành 500 số hóa đơn đến Chi cục thuế khu vực ĐS bằng hình thức điện tử nhưng bị hệ thống tự động từ chối do Công ty đang trong thời gian bị cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng...”

4. Bản án 88/2021/HS-ST ngày 26/05/2021 về tội trốn thuế

- Cấp xét xử: Sơ thẩm.

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Trích dẫn nội dung: Trong quá trình hoạt động kinh doanh từ tháng 7/2019 đến tháng 12/2019, Công ty Đồng T do Nguyễn Như Minh T điều hành đã mua mặt hàng xi măng và sắt của Công ty TNHH TM và Vận tải Giang Đ, Công ty Cổ phần xây dựng Ninh Thuận có hóa đơn đầu vào; mua mặt hàng cát, đá xây dựng của Công ty TNHH Toàn T Ninh Thuận nhưng không có hóa đơn đầu vào. Sau khi mua, Công ty Đồng T đã bán những mặt hàng trên cho 05 cá nhân, tổ chức và thi công một số hạng mục cho 02 doanh nghiệp tại dự án điện mặt trời Đức Long Gia Lai nhưng không xuất hóa đơn bán hàng nhằm trốn thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Tổng doanh thu mua bán hàng hóa, không xuất hóa đơn, không kê thai nộp thuế là 1.958.589.958 đồng…Quá trình điều tra, Nguyễn Như Minh T đã thừa nhận hành vi trốn thuế của mình và sử dụng số tiền trốn thuế vào mục đích cá nhân. ”

5. Bản án về tội trốn thuế số 23/2021/HS-ST

- Cấp xét xử: Sơ thẩm.

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Trích dẫn nội dung: “Công ty TNHH H, người đại diện của Công ty là Bùi Ngọc T. Thuê bà Hoàng Thị làm kế toán. Quá trình hoạt động kinh doanh, Bùi Ngọc T đã ký kết và thực hiện các hợp đồng cung ứng vật tư, vật liệu, máy thi công công trình với UBND xã A. Tuy nhiên Công ty không xuất hóa đơn bán hàng của các công trình trong các năm 2014, 2015 và 2016. Hành vi của Bùi Ngọc T đã bị Phòng Kinh tế Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn phát hiện.”

Lê Huy

Nguồn thư viện pháp luật

GÓC DOANH NGHIỆPTỐT - HAY